Giải cam 18 reading test 3 passage 3

Giải cam 18 reading test 3 passage 3

The Case For Mixed-Ability Classes

Picture this scene. It’s an English literature lesson in a UK school, and the teacher has just read an extract from Shakespeare’s Romeo and Juliet with a class of 15-year-olds. He’s given some of the student’s copies of No Fear Shakespeare, a kid-friendly translation of the original. For three students, even these literacy demands are beyond them. Another girl simply can‘t focus and he gives her pens and paper to draw with. The teacher can ask the No Fear group to identify the key characters and maybe provide a tentative plot summary. He can ask most of the class about character development, and five of them might be able to support their statements with textual evidence. Now two curious students are wondering whether Shakespeare advocates living a life of moderation or one of passionate engagement.

Hãy hình dung một cảnh tượng như sau. Đó là một buổi học môn văn học Anh tại một trường học ở Vương quốc Anh, và giáo viên vừa đọc một đoạn trích trong vở kịch Romeo và Juliet của Shakespeare với một lớp học gồm những học sinh 15 tuổi. Anh ấy đã đưa cho học sinh một số bản sao của No Fear Shakespeare, một bản dịch từ bản gốc dễ hiểu dành cho trẻ em. Nhưng đối với ba học sinh, ngay cả những yêu cầu hiểu biết văn chương này cũng vượt quá khả năng của họ. Một cô gái khác đơn giản là không thể tập trung và anh ấy đưa bút và giấy cho cô ấy để vẽ. Giáo viên có thể yêu cầu nhóm No Fear Shakespeare xác định các nhân vật chính và có thể cung cấp một bản tóm tắt cốt truyện dự kiến. Anh ấy có thể hỏi hầu hết cả lớp về sự phát triển nhân vật, và năm người trong số họ có thể chứng minh ý kiến của mình bằng bằng chứng văn bản. Bây giờ hai sinh viên tò mò đang tự hỏi liệu Shakespeare ủng hộ việc sống một cuộc sống điềm đạm hay một cuộc sống gắn kết đam mê.

As a teacher myself, I’d think my lesson would be going rather well if the discussion went as described above. But wouldn’t this kind of class work better if there weren’t such a huge gap between the top and the bottom? If we put all the kids who needed literacy support into one class, and all the students who want to discuss the virtue of moderation in another?

Bản thân là một giáo viên, tôi nghĩ rằng buổi dạy học của tôi sẽ diễn ra khá tốt nếu cuộc thảo luận diễn ra như mô tả ở trên. Nhưng liệu buổi học có hiệu quả hơn không nếu không có khoảng cách lớn giữa nhóm học sinh giỏi nhất và nhóm học sinh yếu kém nhất? Nếu chúng ta xếp tất cả những đứa trẻ cần hỗ trợ đọc viết vào một lớp và tất cả những học sinh muốn thảo luận về đức tính điềm đạm vào một lớp khác?

The practice of “streaming”, or ‘tracking’, involves separating students into classes depending on their diagnosed levels of attainment. At a macro level, it requires the establishment of academically selective schools for the brightest students, and comprehensive schools for the rest. Within schools, it means selecting students into a “stream’ of general ability, or ‘sets’ of subject-specific ability. The practice is intuitively appealing to almost every stakeholder.

Phương pháp phân loại trong giáo dục “streaming” hay “tracking” liên quan đến việc phân chia học sinh thành các lớp tùy thuộc vào mức độ kiến thức đã được kiểm tra của họ. Ở cấp độ vĩ mô, phương pháp này đòi hỏi phải thành lập các trường học tuyển sinh theo năng lực cho những học sinh xuất sắc nhất và các trường hỗn hợp cho những học sinh còn lại. Trong các trường học, điều đó có nghĩa là chọn học sinh vào một “nhóm” năng lực chung, hoặc “bộ” có năng lực cụ thể theo từng môn học. Phương pháp này nghe có vẻ hấp dẫn với hầu hết các bên liên quan.

I have heard the mixed-ability model attacked by way of analogy: a group hike. The fittest in the group take the lead and set a brisk pace, only to have to stop and wait every 20 minutes. This is frustrating, and their enthusiasm wanes. Meanwhile, the slowest ones are not only embarrassed but physically struggling to keep up. What’s worse, they never get a long enough break. They honestly just want to quit. Hiking, they feel, is not for them.

Tôi đã nghe nói về việc mô hình năng lực hỗn hợp bị chỉ trích thông qua một phép so sánh: một nhóm leo núi. Người khỏe nhất trong nhóm dẫn đầu và đặt một tốc độ nhanh, chỉ phải dừng lại và chờ đợi sau mỗi 20 phút. Điều này thật khó chịu, và sự hăng hái của họ suy yếu dần. Trong khi đó, những người chậm nhất không chỉ cảm thấy xấu hổ mà còn gặp khó khăn về thể lực để theo kịp. Tệ hơn nữa, họ không bao giờ được nghỉ ngơi đủ lâu. Họ thực sự chỉ muốn bỏ cuộc. Họ cảm thấy leo núi không phải dành cho họ.

Mixed-ability classes bore students, frustrate parents and burn out teachers. The brightest ones will never summit Mount Qomolangma, and the stragglers won’t enjoy the lovely stroll in the park they are perhaps more suited to. Individuals suffer at the demands of the collective, mediocrity prevails. So: is learning like hiking?

Các lớp học năng lực hỗn hợp khiến học sinh chán nản, phụ huynh thất vọng và làm giáo viên kiệt sức. Những người thông minh nhất sẽ không bao giờ lên tới đỉnh núi Qomolangma, và những người chậm chạp sẽ không thể tận hưởng chuyến đi dạo thú vị trong công viên mà có lẽ thích hợp hơn với họ. Các cá nhân chịu đựng những yêu cầu từ tập thể, sự tầm thường chiếm ưu thế. Vậy: học có giống như leo núi không?

The current pedagogical paradigm is arguably that of constructivism, which emerged out of the work of psychologist Lev Vygotsky. In the 1930s, Vygotsky emphasised the importance of targeting a student’s specific ‘zone of proximal development’ (ZPD). This is the gap between what they can achieve only with support – teachers, textbooks, worked examples, parents and so on – and what they can achieve independently. The purpose of teaching is to provide and then gradually remove this ‘scaffolding’ until they are autonomous. If we accept this model, it follows that streaming students with similar ZPDs would be an efficient and effective solution. And that forcing everyone on the same hike – regardless of aptitude – would be madness.

Mô hình sư phạm hiện tại được cho là mô hình của thuyết kiến tạo, xuất hiện từ công trình của nhà tâm lý học Lev Vygotsky. Vào những năm 1930, Vygotsky nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhắm mục tiêu vào ‘vùng phát triển gần’ (ZPD) cụ thể của học sinh. Đây là khoảng cách giữa những gì họ có thể đạt được chỉ với sự hỗ trợ – giáo viên, sách giáo khoa, ví dụ cho sẵn, cha mẹ, v.v. – và những gì họ có thể đạt được một cách độc lập. Mục đích của việc giảng dạy là cung cấp và sau đó loại bỏ dần ‘giàn giáo’ này cho đến khi học sinh tự chủ. Nếu chúng ta chấp nhận mô hình này, thì chúng ta theo quan điểm rằng việc phân loại học sinh có ZPD tương tự sẽ là một giải pháp hiệu quả và hiệu suất. Và điều đó việc buộc tất cả mọi người phải leo núi giống nhau – bất kể năng khiếu như thế nào – sẽ là điều điên rồ.

Despite all this, there is limited empirical evidence to suggest that streaming results in better outcomes for students. Professor John Hattie, director of the Melbourne Education Research Institute, notes that ‘tracking has minimal effects on learning outcomes’. What is more, streaming appears to significantly -and negatively-affect those students assigned to the lowest sets. These students tend to have much higher representation of low socioeconomic class. Less significant is the small benefit for those lucky clever students in the higher sets. The overall result is that the smart stay smart and the dumb get dumber, further entrenching the social divide.

Mặc dù những điều này đi chăng nữa thì có rất ít bằng chứng thực nghiệm để chỉ ra được việc phân loại mang đến kết quả  học tập tốt hơn cho học sinh. Giáo sư John Hattie, giám đốc của Viện nghiên cứu giáo dục Melbourne, chỉ ra rằng “việc phân loại có ảnh hưởng rất nhỏ đến kết quả học tập”. Hơn nữa, phân loại dường như ảnh hưởng một cách đáng kể và tiêu cực đến những học sinh được xếp vào nhóm kém nhất. Những học sinh này có xu hướng chiếm phần lớn trong tầng lớp kinh tế xã hội thấp. Chỉ nhận được lợi ích rất hạn chế là nhóm những học sinh  có sự thông minh thiên phú trong nhóm phân loại cao hơn. Kết quả tổng quan là học sinh thông minh thì ngày càng thông minh còn những người ngu ngốc thì ngày càng ngu ngốc hơn, làm cho sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc hơn.

In the latest update of Hattie’s influential meta-analysis of factors influencing student achievement, one of the most significant factors is the teachers’ estimate of achievement. Streaming students by diagnosed achievement automatically limits what the teacher feels the student is capable of. Meanwhile, in a mixed environment, teachers’ estimates need to be more diverse and flexible.

Trong phân tích có tầm ảnh hưởng mới đây nhất của Hattie về các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích của học sinh, một trong số các yếu tố quan trọng nhất là sự đánh giá của giáo viên dành cho các thành tích của người học. Phân loại học sinh dựa theo thành tích đã được kiểm tra trước đó thì sẽ tự động giới hạn cảm nhận của giáo viên về năng lực của người học. Trong khi đó, trong môi trường lớp hỗn hợp thì khả năng đánh giá của giáo viên cần đa dạng và linh hoạt hơn.

While streaming might seem to help teachers effectively target a student’s ZPD, it can underestimate the importance of peer-to-peer learning. A crucial aspect of constructivist theory is the role of the MKO – ‘more knowledgeable other’- in knowledge construction. While teachers are traditionally the MKOs in classrooms, the value of knowledgeable student peers must not go unrecognised either.

Trong khi việc phân loại học sinh dường như giúp giáo viên xác định rõ được vùng phát triển gần của một học sinh thì nó có thể đánh giá thấp tầm quan trọng của việc học từ những bạn bè đồng trang lứa. Một khía cạnh quan trọng của lý thuyết kiến tạo là vai trò của MKO – người giỏi hơn – trong quá trình xây dựng kiến thức. Khi mà người giáo viên luôn được xem là những MKO trong lớp học thì giá trị của những bạn đồng trang lứa mà giỏi hơn cũng nên được thừa nhận.

I find it amazing to watch students get over an idea to their peers in ways that I would never think of. They operate with different language tools and different social tools from teachers and, having just learnt it themselves, they possess similar cognitive structures to their struggling classmates. There is also something exciting about passing on skills and knowledge that you yourself have just mastered – a certain pride and zeal, a certain freshness to the interaction between ‘teacher’ and ‘learner’ that is often lost by the expert for whom the steps are obvious and the joy of discovery forgotten.

Tôi thấy rất thích thú khi quan sát những học sinh truyền đạt lại một ý tưởng cho những người bạn của họ theo những cách mà tôi chưa từng nghĩ tới. Họ thực hiện với những công cụ ngôn ngữ và những công cụ xã hội khác so với giáo viên và khi vừa tự học được một kiến thức nào đó thì họ sở hữu cấu trúc nhận thức tương tự với những bạn học kém hơn. Cũng có một vài điều thú vị về việc truyền đạt kĩ năng và kiến thức mà chính bạn vừa mới thành thạo – đó là niềm tự hào và sự nhiệt tình, một sự mới mẻ về tương tác giữa “người dạy và “người học” điều đó thường đã bị mất đi đối với các giáo viên vì những bước trong quá trình học họ đều đã biết quá rõ rồi và niềm vui của sự khám phá cũng bị quên lãng đi.

Having a variety of different abilities in a collaborative learning environment provides valuable resources for helping students meet their learning needs, not to mention improving their communication and social skills. And today, more than ever, we need the many to flourish- not suffer at the expense of a few bright stars. Once a year, I go on a hike with my class, a mixed bunch of students. It is challenging. The fittest students realise they need to encourage the reluctant. There are lookouts who report back, and extra items to carry for others. We make it – together.

Việc đa dạng những học sinh có năng lực khác nhau trong một môi trường học tập có tính hợp tác cung cấp nhiều nguồn lực quý giá giúp học sinh đáp ứng được nhu cầu học của họ, không chỉ cải thiện kĩ năng giao tiếp và xã hội của họ. Và ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần nhiều người phát triển chứ không phải chịu đựng sự bất công chỉ vì một vài ngôi sao sáng. Một lần một năm, tôi đều đi leo núi với lớp của tôi, một nhóm học sinh có trình độ hỗn hợp. Thực sự đây là một việc đầy thách thức. Những học sinh khỏe nhất nhận ra rằng họ cần động viên những bạn còn đang lưỡng lự, chưa sẵn lòng tham gia. Có những người giám sát sẽ báo cáo lại, và những người khỏe hơn thì xách giùm những vật dụng cho những người khác. Chúng ta làm điều này cùng với nhau.

Giải cam 18 reading test 3 passage 1

giải cam 18 reading test 3 passage 3
giải cam 18 reading test 3 passage 3

Phân Tích Chi Tiết Đáp Án

Questions 27-30

Choose the correct letter, A, B, C or D.

Write the correct letter in boxes 27-30 on your answer sheet.

27. The writer describes the Romeo and Juliet lesson in order to demonstrate

A. how few students are interested in literature.

B. how a teacher handles a range of learning needs.

C. how unsuitable Shakespeare is for most teenagers.

D. how weaker students can disrupt their classmates’ learning.

28. What does the writer say about streaming in the third paragraph?

A. It has a very broad appeal.

B. It favours cleverer students.

C. It is relatively simple to implement.

D. It works better in some schools than others.

29. What idea is suggested by the reference to Mount Qomolangma in the fifth paragraph?

A. students following unsuitable paths

B. students attempting interesting tasks

C. students not achieving their full potential

D. students not being aware of their limitations

30. What does the word ‘scaffolding’ in the sixth paragraph refer to?

A. the factors which prevent a student from learning effectively

B the environment where most of a student’s learning takes place

C. the assistance given to a student in their initial stages of learning

D. the setting of appropriate learning targets for a student’s aptitude

Giải thích đáp án câu 27 – 30

27. The writer describes the Romeo and Juliet lesson in order to demonstrate

Picture this scene. It’s an English literature lesson in a UK school, and the teacher has just read an extract from Shakespeare’s Romeo and Juliet with a class of 15-year-olds. He’s given some of the student’s copies of No Fear Shakespeare, a kid-friendly translation of the original. For three students, even these literacy demands are beyond them. Another girl simply can‘t focus and he gives her pens and paper to draw with. The teacher can ask the No Fear group to identify the key characters and maybe provide a tentative plot summary. He can ask most of the class about character development, and five of them might be able to support their statements with textual evidence.

Đoạn 1

A. how few students are interested in literature. -> không có thông tin về mức độ thích thú của học sinh -> Loại

B. how a teacher handles a range of learning needs. -> liệt kê một loạt những hoạt động được giáo viên tổ chức trong giờ học đối với từng nhóm học sinh khác nhau -> Chọn

C. how unsuitable Shakespeare is for most teenagers.->  chỉ đề cập đến việc những yêu cầu văn học trong tác phẩm của Shakespeare quá sức đối với một số ít học sinh nhưng không có thông tin về việc tác phẩm của Shakespeare không phù hợp với phần lớn các học sinh -> Loại

D. how weaker students can disrupt their classmates’ learning. -> không có thông tin về việc các học sinh yếu hơn làm ảnh hưởng đến việc học của lớp -> Loại

=> Đáp án: B

28. What does the writer say about streaming in the third paragraph?

The practice of “streaming”, or ‘tracking’, involves separating students into classes depending on their diagnosed levels of attainment. At a macro level, it requires the establishment of academically selective schools for the brightest students, and comprehensive schools for the rest. Within schools, it means selecting students into a “stream’ of general ability, or ‘sets’ of subject-specific ability. The practice is intuitively appealing to almost every stakeholder.

Đoạn 3

A. It has a very broad appeal. -> Việc thực hiện “streaming”  nhìn chung rất hấp dẫn với mọi bên liên quan -> Chọn

B. It favours cleverer students. -> “Streaming” được áp dụng để mang lại lợi ích cho cả học sinh giỏi nhất và học sinh kém hơn, không thiên vị bên nào -> Loại

C. It is relatively simple to implement. -> không có thông tin về việc có đơn giản để thực hiện không -> Loại

D. It works better in some schools than others. -> không có thông tin về “streaming” sẽ hiệu quả hơn khi áp dụng ở đâu -> Loại

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • a very broad appeal = appealing to almost every stakeholder

=> Đáp án: A

29. What idea is suggested by the reference to Mount Qomolangma in the fifth paragraph?

Mixed-ability classes bore students, frustrate parents and burn out teachers. The brightest ones will never summit Mount Qomolangma, and the stragglers won’t enjoy the lovely stroll in the park they are perhaps more suited to. Individuals suffer at the demands of the collective, mediocrity prevails. So: is learning like hiking?

Đoạn 5

A. students following unsuitable paths -> không có thông tin học sinh đi theo con đường không phù hợp -> Loại

B. students attempting interesting tasks -> không có thông tin học sinh cố gắng thực hiện các nhiệm vụ thú vị -> Loại

C. students not achieving their full potential -> Đoạn này nói rằng Những người thông minh nhất sẽ không bao giờ lên đến đỉnh núi Qomolangma, và những người đi lạc sẽ không thích đi dạo trong công viên mà họ có lẽ phù hợp hơn -> học sinh không đạt được tiềm năng đầy đủ của họ -> Chọn

D. students not being aware of their limitations -> không có thông tin học sinh không ý thức được hạn chế của mình -> Loại

=> Đáp án: C

30. What does the word ‘scaffolding’ in the sixth paragraph refer to?

This is the gap between what they can achieve only with support – teachers, textbooks, worked examples, parents and so on – and what they can achieve independently. The purpose of teaching is to provide and then gradually remove this ‘scaffolding’ until they are autonomous

Đoạn 6

A. the factors which prevent a student from learning effectively -> không có thông tin về các tác nhân ngăn cản học sinh học tập một cách hiệu quả -> Loại

B the environment where most of a student’s learning takes place -> không đề cập đến môi trường học tập cụ thể của một học sinh -> Loại

C. the assistance given to a student in their initial stages of learning -> Đoạn này nói rằng khoảng cách giữa những gì họ có thể đạt được chỉ với sự hỗ trợ và những gì họ có thể đạt được một cách độc lập và mục đích của việc giảng dạy là cung cấp và sau đó loại bỏ dần scafforlding cho đến khi chúng tự chủ. -> Chọn

D. the setting of appropriate learning targets for a student’s aptitude -> không đề cập đến việc đặt ra những mục tiêu học tập phù hợp với năng khiếu của học sinh -> Loại

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • assistance = support

=> Đáp án: C

Questions 31-35

Complete the summary using the list of phrases, A-l, below.

Write the correct letter, A-l, in boxes 31-35 on your answer sheet

Is streaming effective?
According to Professor John Hattie of the Melbourne Education Research Institute, there is very little indication that streaming leads to 31…………. . He points out that, in schools which use streaming, the most significant impact is on those students placed in the 32…………….., especially where a large proportion of them have 33…………… . Meanwhile, for the 34……………, there appears to be only minimal advantage. A further issue is that teachers tend to have 35………….. of students in streamed groups.
A. wrong classes B. lower expectations C. average learners
D. bottom sets E. brightest pupils F. disadvantaged backgrounds
G. weaker students H. higher achievements I. positive impressions

Giải thích đáp án câu 31 – 35

31. According to Professor John Hattie of the Melbourne Education Research Institute, there is very little indication that streaming leads to ..………….

Despite all this, there is limited empirical evidence to suggest that streaming results in better outcomes for students. Professor John Hattie, director of the Melbourne Education Research Institute, notes that ‘tracking has minimal effects on learning outcomes’

Đoạn 7

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • there is very little indication = there is limited empirical evidence
  • leads to = results in

=> Từ còn thiếu: better outcomes -> Tìm từ đồng nghĩa với từ này trong list cho sẵn

=> Đáp án: H. higher achievements

32. He points out that, in schools which use streaming, the most significant impact is on those students placed in the…………..,

What is more, streaming appears to significantly -and negatively-affect those students assigned to the lowest sets

Đoạn 7

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • significant impact = significantly -and negatively-affect
  • placed in = assigned to

=> Từ còn thiếu: lowest sets -> Tìm từ đồng nghĩa với từ này trong list cho sẵn

=> Đáp án: D. bottom sets

33. especially where a large proportion of them have ….…………

These students tend to have much higher representation of low socioeconomic class.

Đoạn 7

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • large proportion = much higher representation

=> Từ còn thiếu: low socioeconomic class -> Tìm từ đồng nghĩa với từ này trong list cho sẵn

=> Đáp án: F. disadvantaged backgrounds

34. Meanwhile, for the ….……………, there appears to be only minimal advantage

Less significant is the small benefit for those lucky clever students in the higher sets. The overall result is that the smart stay smart and the dumb get dumber, further entrenching the social divide.

Đoạn 7

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • minimal advantage = small benefit

=> Từ còn thiếu: lucky clever students -> Tìm từ đồng nghĩa với từ này trong list cho sẵn

=> Đáp án: E. brightest pupils

35. A further issue is that teachers tend to have ….………….. of students in streamed groups.

Streaming students by diagnosed achievement automatically limits what the teacher feels the student is capable of.

Đoạn 8

Ý đoạn này nói rằng việc phân chia học sinh dựa vào thành tích khiến cảm giác của giáo viên về những gì mà học sinh có thể làm được bị giới hạn. Điều này đồng nghĩa với việc giáo viên thường có xu hướng đưa ra những kỳ vọng thấp hơn đối với học sinh

=> Từ cần điền: B. lower expectations

Questions 36-40

Do the following statements agree with the views of the writer in Reading Passage 3?
In boxes 36-40 on your answer sheet, write

YES    if the statement agrees with the views of the writer

NO     if the statement contradicts the views of the writer

NOT GIVEN if it is impossible to say what the writer thinks about this

36. The Vygotsky model of education supports the concept of a mixed-ability class.
37. Some teachers are uncertain about allowing students to take on MKO roles in the classroom.
38. It can be rewarding to teach knowledge which you have only recently acquired.
39. The priority should be to ensure that the highest-achieving students attain their goals.
40. Taking part in collaborative outdoor activities with teachers and classmates can improve student outcomes in the classroom.

Giải thích đáp án câu 36 – 40

36. The Vygotsky model of education supports the concept of a mixed-ability class.
Dựa vào từ khóa: Vygotsky model để tìm vị trí đoạn văn

In the 1930s, Vygotsky emphasised the importance of targeting a student’s specific ‘zone of proximal development’ (ZPD). This is the gap between what they can achieve only with support – teachers, textbooks, worked examples, parents and so on – and what they can achieve independently. The purpose of teaching is to provide and then gradually remove this ‘scaffolding’ until they are autonomous. If we accept this model, it follows that streaming students with similar ZPDs would be an efficient and effective solution. And that forcing everyone on the same hike – regardless of aptitude – would be madness.

Đoạn 6

Trong đoạn văn: mô hình giáo dục của Vygotsky là nếu bắt ép mọi người trên cùng một chuyến leo núi, mặc kệ khả năng của mọi người ra sao là một điều điên rồ => mô hình này không ủng hộ ý tưởng về lớp học hỗn hợp mà ngược lại còn chỉ trích chúng.

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • mixed-ability class = everyone on the same hike
  • support # would be madness

=> Đáp án: NO

37. Some teachers are uncertain about allowing students to take on MKO roles in the classroom.

Dựa vào từ khóa MKO để tìm vị trí đoạn văn

A crucial aspect of constructivist theory is the role of the MKO – ‘more-knowledgeable other’ – in knowledge construction. While teachers are traditionally the MKOs in classrooms, the value of knowledgeable student peers must not go unrecognised either.

Đoạn 9

Ý đoạn văn này là: Khi đề cập đến vai trò của MKO thì về mặt truyền thống giáo viên đã là các MKO trong lớp học rồi thì cũng phải công nhận vai trò của học sinh giỏi hơn dạy lại cho học sinh khác.

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • allowing studnets to take on MKO roles in the classrom = the value of knowledgeable student peers must not go unrecognised either
  • some teachers are uncertain -> không có thông tin

=> Đáp án: NOT GIVEN

38. It can be rewarding to teach knowledge which you have only recently acquired.

There is also something exciting about passing on skills and knowledge that you yourself have just mastered – a certain pride and zeal, a certain freshness to the interaction between ‘teacher’ and ‘learner’ that is often lost by the expert for whom the steps are obvious and the joy of discovery forgotten

Đoạn 10

Ý của đoạn này là: sẽ thú vị khi truyền đạt kĩ năng và kiến thức mà chính bạn vừa mới thành thạo

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • rewarding = exciting
  • teach knowledge = passing on skills and knowledge
  • have only recently acquired = have just mastered

=> Đáp án: YES

39. The priority should be to ensure that the highest-achieving students attain their goals

Having a variety of different abilities in a collaborative learning environment provides valuable resources for helping students meet their learning needs, not to mention improving their communication and social skills. And today, more than ever, we need the many to flourish – not suffer at the expense of a few bright stars

Đoạn 11

Ý đoạn văn: ngày nay, điều mà chúng ta cần hơn cả là nhiều học sinh có thể phát triển thêm hơn, chứ không phải chịu đựng sự bất công chỉ vì một vài vì sao sáng => không phải ưu tiên giúp những học sinh giỏi đạt được mục tiêu của họ

Đối chiếu các cụm từ trong câu hỏi và bài đọc

  • ensure that the highest-achieving students attain their goal # need the many to flourish
  • highest-achieving students = bright stars

=> Đáp án: NO

40. Taking part in collaborative outdoor activities with teachers and classmates can improve student outcomes in the classroom

Once a year, I go on a hike with my class, a mixed bunch of students. It is challenging. The fittest students realise they need to encourage the reluctant. There are lookouts who report back, and extra items to carry for others. We make it – together.

Đoạn 11

Đoạn này chỉ đề cập đến việc khi tham gia hoạt động leo núi thì những học sinh khỏe mạnh nhận ra rằng họ cần động viên những bạn còn đang lưỡng lự, chưa sẵn lòng tham gia. Nhưng không có thông tin về việc tham gia vào các hoạt động dã ngoại cộng tác giữa giáo viên và bạn học trong lớp có thể cải thiện kết quả học tập.

=> Đáp án: NOT GIVEN

List Từ Vựng Hay Trong Bài Đọc

Một số từ vựng nên học trong IELTS Reading Cambridge 18 Test 3 Passage 3: The Case for Mixed-Ability Classes

selective school trường chuyên
comprehensive school trường phổ thông hỗn hợp
streaming = tracking phân loại học sinh theo năng lực
analogy điểm tương tự
mediocrity sự tầm thường
constructivism thuyết kiến tạo
paradigm mô hình mẫu
straggler người bị tụt lại
aptitude năng khiếu
zeal sự nhiệt tình
to advocate tán thành, ủng hộ
to wane  suy giảm
to burn out  kiệt sức
to get over an idea to their peers giải thích rõ ràng lại cho bạn học
to take the lead dẫn đầu
autonomous (adj)  tự chủ
dumb (adj) ngu ngốc

Giải cam 18 reading test 3 passage 2

Sách luyện thi ielts

ieltsboosting
ieltsboosting
Articles: 231